Les Carnets de Philippe Truong

"Celui qui sait une chose ne vaut pas celui qui l'aime. Celui qui aime une chose ne vaut pas celui qui en fait sa joie" (Confucius)

08 mai 2006

Inauguration des nouvelles salles au Mausolée de Khai Dinh

DSC5826

Trưng bày cổ vật ở nội thất Cung Thiên Định (Lăng Khải Định)

Hướng đến Festival Huế 2006, cùng với các chương trình lễ hội hoành tráng diễn ra ở nhiều địa điểm thuộc Quần thể di tích cố đô Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức chỉnh lý và mở rộng không gian trưng bày Cung Thiên Định (Lăng Khải Định) như một hoạt động hưởng ứng Festival Huế 2006. Triển lãm nhằm cung cấp cho du khách thêm những thông tin về thân thế và hành trạng của Vua Khải Định.

Quần thể di tích cố đô Huế, trong đó có Ứng lăng (thường gọi là lăng Khải Định), là di sản văn hóa đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới vào tháng 12/1993.

Lăng Khải Định, cùng với lăng của các vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức và Đồng Khánh, là những di tích lăng tẩm quan trọng của triều Nguyễn hiện còn tồn tại ở Huế, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, thưởng ngoạn.

Đặc trưng nổi bật của lăng Khải Định là phong cách kiến trúc pha trộn “nửa Á, nửa Âu”, đánh dấu một giai đoạn kiến trúc cách tân trong lịch sử kiến trúc và mỹ thuật Việt Nam. Về cấu trúc, lăng Khải Định giống như một lâu đài cổ kính của Châu Âu, tọa lạc trên sườn núi cao và được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu có nguồn gốc Tây phương như: bê-tông cốt thép; những cánh cửa sắt đồ sộ, lợp ngói ardoise, gạch careaux... đã tạo ra nét khác lạ bởi sự phá cách truyền thống trong kiến trúc so với quần thể di tích lăng tẩm khác của các vua Nguyễn. Bên cạnh nét Tây phương, phong cách Á Đông cũng đan xen trong kiến trúc lăng tẩm này ở việc phân bổ các kiến trúc vật và tuân thủ nguyên tắc phong thủy địa lý trong việc tận dụng núi đồi, khe suối chung quanh để tạo thế tả long, hữu hổ; minh đường, thủy tụ; tiền án, hậu chẩm... với một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ làm nền.

Cung Thiên Định tọa lạc ở vị trí cao nhất và là kiến trúc trọng yếu của lăng. Công trình này gồm 05 phần liền nhau: hai bên là Tả trực phòng và Hữu trực phòng (trước kia dành cho lính hộ lăng trú tất, về sau dùng làm nơi tàng trữ hiện vật, tài sản và là chỗ canh trực, sinh hoạt của lực lượng bảo vệ lăng); phần chính giữa, từ ngoài vào, là Điện Khải Thành thiết án thờ và chân dung Vua Khải Định; tiếp đến là Chính điện có bửu tán, pho tượng nhà vua và mộ phần phía dưới; trong cùng là Hậu điện với khám thờ, bài vị của nhà vua quá cố. Toàn bộ nội thất của Cung Thiên Định đã phô diễn nghệ thuật trang trí đạt đến trình độ điêu luyện ở nhiều lĩnh vực: hội họa, ghép sành sứ và thủy tinh, kiến trúc, điêu khắc... Với những giá trị văn hóa nghệ thuật độc đáo và đa dạng ấy, lăng Khải Định là một địa chỉ văn hóa quan trọng trong Quần thể di tích Cố đô Huế, luôn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Trong nhiều năm qua việc trưng bày hiện vật ở nội thất Cung Thiên Định còn đơn điệu, chưa tương xứng với tầm vóc và giá trị của một công trình kiến trúc lịch sử văn hóa đã rất nổi tiếng này. Nhân dịp Festival Huế 2006, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức chỉnh lý và mở rộng không gian trưng bày Cung Thiên Định, cung cấp cho du khách thêm những thông tin phản ánh thân thế và hành trạng của Vua Khải Định - chủ nhân của khu lăng mộ nổi tiếng này.

Cuộc triển lãm đã trưng bày 103 hiện vật gốc, phần lớn là những hiện vật lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng. Ngoài ra còn có nhiều hình ảnh, tư liệu lưu trữ ở các kho tư liệu quốc gia và hải ngoại, cùng các nguồn tư liệu cá nhân ở nhiều nơi khác cũng được sưu tầm, sao chụp và đưa ra trưng bày trong triển lãm này, như: 04 ảnh vua Khải Định trong các bộ triều phục và lễ phục do nhà nghiên cứu Philippe Trương (Paris, Pháp) cung cấp và bản sao bút tích bức thư vua Khải Định gửi thầy giáo của ông vào năm 1916 do nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn (Tp. Hồ Chí Minh) cung cấp,...

Triển lãm bắt đầu mở cửa từ ngày 30/4/2005.

Trần Đức Anh Sơn www.hueworldheritage.org.

Posté par philippe truong à 14:01 - Art Vietnamien - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

07 mai 2006

Le bouddhisme au Vietnam

pagode_pilier_uniqueLe bouddhisme marqua profondément le Vietnam de son empreinte. Cette religion fut introduite au pays dès le premier siècle de notre ère par des bronzes indiens ayant empruntés la route maritime, puis par des réfugiés bouddhiques chinois, fuyant la répression après le décès de l'empereur Ling en 189. Dès le IIIe siècle, plusieurs moines prêchèrent les paroles de Bouddha dans le Giao Chau1 : le Sogdien Kang Senghui, issu d'une famille de négociant installée au Giao Chau, qui se rendit au royaume Wu pour convertir l'empereur Dadi (229-252) vers 247 ; l'Indo-scythe Kalyânaruci qui traduisit entre 225 et 256 le Fa hua sanmeijing ; l'Indien Mârajîvaka qui aborda les côtes vers 294 en provenance du Funan, avant de se rendre au Canton. D'après le Thiên uyên tâp anh ngu luc, "Chronique des Religieux éminent du jardin du dhyâna" (XIVe siècle), rapporte que l'empereur Gaodi (479-483) des Qi voulut envoyer des missionnaires bouddhiques au Giao Chau, le bronze Dam Thiên lui répondit qu'avant même que cette religion ne parvienne au Guangdong, Luy Lâu (Thuân Thanh, Ha Bac), alors capitale du Giao Chau, possédait déjà plus de vingt pagodes où exerçaient plus de cinq cent moines qui traduisirent quinze textes canoniques. Le bouddhisme reçut un accueil favorable de la part du peuple souffrant de l'occupation chinoise. L'école qui s'implanta alors était le Thiên Tông ("dhyâna pur"), dérivé de l'école du dhyâna (chan ou zen). Dans l'école du Mahayana ("Grand Véhicule"), le dhyâna compte parmi les six vertus qui permettent au bodhisattva de devenir bouddha à travers des étapes successives de la méditation, provoquant l'éveil de la connaissance et l'accession au Nirvana. L'école de Thiên Tông, professée par un Indien Vinitaruci à la pagode de chua Dâu (Phap Van, Thuân Thanh, Bac Ninh), en 580, touchait toutes les couches de la population et restait très proche de la culture populaire. Les Sui (581-618) firent de nombreux présents à ces pagodes ; ils ordonnèrent d'élever à côté de la pagode de Phap Van, considéré comme "terre pure" du Giao, le stupa de Hoa Phong pour conserver des reliques de Bouddha. Sous les Tang (618-906), le successeur du vénérable Vinitaruci, le bonze vietnamien Phap Hien avait plus de trois cents disciples dans la région de Tu Son (Bac Ninh). Le Giao Chau bat huyên ky dénombrait alors plus de quatre-vingt huit pagodes, certaines ayant plus d'une centaine de bonzes et possédant de vastes terres et rizières. Des maîtres traversèrent les frontières soit pour se rendre aux Indes soit pour porter les paroles de Bouddha dans les pays limitrophes. Dans les Biographies des moines vénérables de la dynastie des Grands Tang qui ont étudié les sutras bouddhiques des contrées occidentales, composé par Yi Jing (635-713), six notices furent consacrées aux bonzes vietnamiens : Vân Ky, disciple de Hui Neng, introduisit en Chine la traduction du Nirvâna sutra et mourut dans l'actuel Palembang où il prêcha ; Moksadeva arriva au Temple de la Grande Intelligence, via les mers du Sud, pour vénérer les saintes reliques et se recueillir sous l'arbre de Bodhi ; Khuy Sung parvint dans l'Inde centrale en passant par le Ceylan ; Tuê Diêm qui se fixa au Ceylan ; Tri Hanh mourut dans un temple au nord du Ganga ; Dai Thua Dang accompagna Yi Jing dans son pèlerinage en Inde. D'autres comme Duy Giâm et Phung Dinh vinrent prêcher devant le souverain Tang à Chang'an. En 820, le bonze cantonnais Vô Ngôn Thông créa une seconde école Thiên Tông dans la pagode de Kiên So (Phu Dông, Bac Ninh). A la différence de l'école de Vinitaruci, elle recherchait la méditation et l'ascétisme, d'où son autre nom "école de la contemplation du mur" (Quan Bich).

Lorsque le Vietnam acquit son indépendance (968), Dinh Bô Linh, sous le nom de Dinh Tiên Hoang (968-979), créa l'éphémère dynastie des Dinh (968-980). Il favorisa le bouddhisme. Les bonzes, qui formèrent la seule élite intellectuelle, participèrent aux affaires de l'Etat ; Ngô Chan Luu (959-1011) fut élevé par le souverain au titre de Khuong Viêt Dai Su (Grand Maître, Soutien du Pays Viêt). Lê Dai Hanh (981-1005) perpétua la politique des Dinh. Il s'entoura de bonzes comme conseillers politiques et militaires. En 1007, Lê Long Dinh (1005-1009) envoya une mission en Chine pour recueillir les "Neuf Classiques" et les textes de la "Grande Corbeille".

Le pouvoir et les privilèges des bonzes s'accrûrent sous le règne de Ly Thai Tô (1009-1028) qui fut élevé dans un monastère et porté au pouvoir par le bonze Van Hanh. Le bouddhisme fut érigé en religion d'Etat. Le souverain encouragea son peuple à adopter le bouddhisme et même à entrer en religion (décret datant de 1019). Dès 1016, plus d'un millier de personnes furent ordonnées bonzes dans la capitale, Thang Long. Les Annales signalèrent de nombreux souverains Ly (1009-1225) qui devinrent patriarches de sectes bouddhiques : Ly Thai Tông (1028-1054) adepte du secte Thiên Tông, enseigné par Vo Ngô Thông ; Ly Thanh Tông (1054-1072) devint patriarche de l'école Thao Duong2, fondé en 1068 par un moine chinois venu du Champa, où il fut fait prisonnier. Bien que fervent bouddhiste, Ly Thanh Tong avait un esprit oecuménique et tolérant. Il protégea le Confucianisme ainsi que d'autres religions3. Il ne se contenta pas de protéger le culte des esprits, il érigea même ces esprits en protecteur et gardiens du royaume Viet. Dès lors, ces esprits participent à la résistance contre les ennemis4 et à la légitimation la dynastie royale. Ainsi, la conception religieuse des Ly avait un but politique. Cependant, la sincérité de leur foi bouddhiste permit à la population de vivre paisiblement. L'empereur Ly Huê Tông (1210-1224), parvenu à un certain âge, abandonna ses charges pour se retirer dans un monastère. A partir du règne de Ly Cao Tông (1175-1210), la corruption gagna les pagodes, obligeant le souverain d'instaurer un examen pour devenir bonze (1198).

bouddha_de_phat_tichLes souverains Ly couvrirent le pays d'une "robe de temple". Les Annales dénombrent neuf cents cinquante pagodes en 1031. Des pagodes Ly, citons le Quan Thanh (1102, Hanoi) ; la pagode Keo (Thai Binh) ; le stupa de Sung Thiên Diên Linh (chua Doi, Nam Ha) muni "de treize étages pour défier le Ciel et de quarante ouvertures pour recevoir l'air" ; le stûpa de Chuong Son (Nam Ha) avec sa base carrée de dix-huit mètres et sa hauteur atteignat cinquante neuf mètres ; la pagode Giam (Ha Bac) qui s'élevait sur trois niveaux et s'étendait sur 8 400 mètres carrés ; la statue de Maitreya de la pagode Quynh Lâm (Quang Ninh) mesurant vingt mètres de haut. La pagode de Bao Thiên (1056, Hanoi) avec son tour stupa de douze étage (70 mètres) dont les derniers étages sont en bronze, fut classée parmi les Quatre Merveilles des Ly et célébrée par Pham Su Manh (XIVe siècle) comme "l'un des piliers du Ciel, accordant la paix au pays et la stabilité au trône". Le chef-d'oeuvre de l'architecture Ly reste la très symbolique pagode Diên Huu, plus connu sous le nom "Pagode au Pilier Unique", construite en 1049, s'élevant au milieu du lac sur un pilier en bois, telle une fleur de lotus.

Les Trân (1225-1400) continuèrent à favoriser le bouddhisme, accordant de nombreux privilèges aux bonzes (le patriarche Phap Loa de la secte de "Forêt de bambous" reçut deux mille hectares de rizières et un millier de serfs). Trân Thai Tông (1225-1258) voulut séculariser le bouddhisme en lui intégrant des notions de confucianisme et taoïsme. Il théorisa ces idées, en prônant l'harmonie et la complémentarité des trois religions, dans deux ouvrages : Thiên Tông chi nam tu (Boussole de la doctrine du dhyana) et Khoa Hu luc (Livre de la pratique du Vide). Son fils, Thanh Tông (1258-1278), après vingt ans de règne, se retira dans un monastère. Son successeur, Nhân Tông (1278-1293) céda le trône à son fils en 1293 pour se revêtir de la robe de moine. Il prêcha les paroles de Bouddha à travers le pays jusque dans la capitale du Champa. Il créa en 1299 une nouvelle école, Thiên Tông Truc Lâm Yên Tu, Dhyana de la Forêt de Bambous du mont Yên Tu, qui cherche à unifier le bouddhisme thiên, le culte des esprits et le confucianisme. Après son décès, son fils fit ériger le stupa de Phô Minh pour recevoir ses reliques. Les deux patriarches, qui le succédèrent, portèrent cette école à son apogée.

Le bouddhisme s'altéra rapidement au contact du taoïsme et du lamaïsme, gagné par la magie et la sorcellerie, provoquant les critiques des confucéens. Truong Han Siêu s'éleva contre ces bonzes, "escrocs qui avaient perdu toute notion de l'ascétisme bouddhique ne cherchaient qu'à accaparer les beaux jardins, se bâtissaient des résidences dorées, s'entouraient d'une domesticité innombrable... Les gens se faisaient moins par milliers pour manger sans avoir à travailler, pour se vêtir sans avoir à tisser. Ils dupent le peuple, sapent toute moralité, gaspillent les richesses, se répandent partout, suivis d'une foule nombreuse de fidèles, mais bien peu parmi eux ne sont pas de vrais bandits". De plus, la dissension entre les différentes communautés bouddhiques aboutit à une crise profonde. Avec la dynastie des Lê (1428-1789), le bouddhisme fut écarté de la scène politique au détriment du confucianisme. Il restera, cependant, la religion le plus pratiquée au Vietnam.

1 Le Giao Chau est le nom employé par l'administration chinoise pour désigner le Vietnam entre 203 et 679, date à laquelle les Tang le changèrent en An Nam, "Sud Pacifié".

2 Le Thao Duong, mélange de Mahayana et de brahmanisme, fut réservé à l'élite aristocratique. Il fut professé par le moine chinois dans la pagode de Khai Quôc érigé dans la capitale Thang Long.

3 Le culte d'Indra, Thien Vuong, importé du Champa, a été institué à Thang Long en 1057. Les Annales vietnamiennes notent que plusieurs temples, consacrés à ce dieu, furent érigés sous les Ly ainsi que des statues en or d'Indra et Brahma, Phan Vuong, furent coulées en 1016, 1057 et 1134. Annuellement, l'empereur et la cour venaient honorer Indra le deuxième jour avant le nouvel an lunaire.

4 Au cours de la bataille sur le fleuve Nhu Nguyêt (l'actuel song Câu, Ha Bac), voyant le moral de son armée faiblir, le général Ly Thuong Kiêt ordonna à l'un de ses officiers de se cacher dans le temple voisin dédié aux héros nationaux,Truong Hong et Truong Hat (VIe siècle). Imitant la voix de ces génies, il déclama :

" Sur les monts et les fleuves du Sud règne l'Empereur du Sud,

Ainsi en a décidé à jamais le Céleste Livre.

Comment, vous barbares, osez-vous envahir notre sol ?

Vos hordes, sans pitié, seront anéanties !"

Ces paroles "divines" réveillèrent le courage de l'armée vietnamienne et permirent de sauver Thang Long.

Posté par philippe truong à 15:16 - Histoire du VietNam - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

05 mai 2006

Le dragon Trân

2._dragon_pagode_b_i_kh_Le règne des Trân marque le déclin du Bouddhisme qui, avec le temps, s'est entaché de magie taoïste, et la montée du Confucianisme. Les premiers souverains Trân, dont certains furent de réels adeptes, continuèrent à protéger le Bouddhisme. Cette religion constitue un moyen efficace de gouvernement puisqu'elle incitait la population à respecter la royauté et l'ordre établi. Cependant son influence reste très limitée sur l'organisation politique et sociale. A ce titre, les souverains Trân préférèrent le confucianisme qui fournissait un ciment solide à l'autorité royale et à l'administration du pays, par l'intermédiaire de la bureaucratie des lettrés.

1._dragon_pagode_d_uLe dragon Trân, qui perpétue la tradition Ly, porte des modifications tant artistiques que sociologiques. Il adopte une attitude plus solennelle comme l'exige la morale confucéenne. Son corps, robuste et revêtu d'écailles, suit un mouvement plus libre avec des ondulations irrégulières. Sa tête est plus terrifiante avec des mâchoires plus puissantes, et munie des cornes et des oreilles. Ces pattes se terminent par quatre griffes. Cette représentation est perceptible tant sur le la colonne de la pagode Dâu (Ha Bac) que sur le soubassement en pierre de la pagode Bôi Khê (Hà Son Binh).

Il révèle des influences étrangères venant du Champa et de Chine. La parenté avec le makara Champa est perceptible à travers cette tête de dragon, conservée au tour-stûpa de Phô Minh (prov. de Hà Nam Ninh), érigé en 1305. La parenté entre le makara et le giao long n'est pas seulement iconographique comme le prouve le dragon makara sculpté à la base de la sculpture de Devi1. Le makara est un monstre hybride constitué de poisson, crocodile et éléphant. Cette parenté suscita des confusions chez certains chercheurs qui voient dans le bec verseur modelé en forme de dragon des verseuses Ly-Trân la représentation du makara. Il s'agit bien d'un goulot modelé en dragon Trân comme nous l'atteste la verseuse2 en grès à couverte ivoire dont une partie du corps et la queue forme l'anse. De telle représentation tronquée fut utilisée comme sur l'anneau de fixation de la cloche en bronze3 découvert à Hai Phong.

3._makara_champa14._verseuse_dragon5._prise_en_forme_de_dragons_cloche

A partir du XIIe-XIIIe siècle sous l'influence de la Chine, les représentations du dragon se diversifient4. Il perd sa valeur spirituelle pour ne plus incarner que le pouvoir temporaire et royal dont il devient l'un des attributs5. Le dragon qui sert de rampe d'escalier dans la tombe de Trân Anh Tông (ca. 1320) montre un corps, gros et rond, et une tête terrifiante avec une crête érigée à l'avant, avec une paire de corne pointue vers l'arrière, avec le motif "S" sur le front, avec la longue touffe de poils qui recouvre un corps. Malgré ses modifications, l'aspect général du dragon Trân reste léger grace au mouvement sinueux du corps.

1 Devi, grès, Champa, XIIe siècle, H. 120 cm, Musée de Bnh Dinh, Quy Nhon, inv. 166 D-05.

2 Verseuse, grès à couverte ivoire, dynastie des Trân, XIIe-XIIIe siècle, H. 24,30 cm, collection particulière.

3 Cloche, bronze, XIIIe-XIVe siècle, découvert à Hai Phong, Musée National d'Histoire du Viêt-Nam, Hanoi.

4 Dans les tombeaux des souverains Trân à An Sinh (prov. de Quang Ninh), figurent des dragons à queue droite et pointue, d'autres se terminant en panache de poils ronde ; le corps est orné de motifs floraux, d'écailles ou laissé nu ; le front est orné soit du motif "S", hérité des Ly, soit d'autres motifs concentriques.

5 Le dragon est apposé sur tous les objets destinés au roi : sceau, trône, robe, épée, voiture... et désigne l'empereur dans le langage quotidien comme nous le prouvent les expressions suivantes : Rông nam yên ôn, ca lôi thanh thaï ("Quand le dragon (soit l'empereur) reste tranquille, les poissons (soit le peuple) nagent librement") ou Rông da lên troi ("Le dragon est monté au ciel"), terme utilisé par les mandarins pour annoncer le décès du souverain.

Posté par philippe truong à 14:19 - Le dragon dans l'art Vietnamien - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

03 mai 2006

Le dragon giao long Ly

3._dragon_ph_t_tich_ly__1057_Sous des Ly (1010-1225), le dragon devient, avec la fleur de lotus, les deux motifs décoratifs les plus usités et le plus souvent associés1. Il reste universel et ne subit aucune modification qu'il figure sur les palais royaux ou sur les pagodes comme à Phât-Tich (prov. de Hà Bac) construite en 1057, sur le tour-stûpa de Chuong Son (prov. de Nam Hà), érigé en 1108, sur la colonne de la pagode de Giam (prov. de Hà Nam) ou de Bac Thao (Hanoi), qu'il soit sculpté sur la pierre, gravé dans du bois, modelé en terre cuite.

Le giao long Ly est différent de son homologue chinois2. Cet animal hybride, mi-serpent mi- saurien, possède une tête proportionnée au corps et coiffée d'une crête en forme de "flamme" dirigée vers l'avant, une crinière flottant au vent dans le sens inverse et ondulant comme une vague. Le front est orné de motifs "S"3. Le long corps serpentiforme qui se rétrécit vers la queue se love en de multiples courbes. Ses ondulations se présentent sous forme d'une suite de poches annelées régulières. Le dos est recouvert d'écailles de poisson tandis que le ventre est moucheté. Les quatre pattes puissantes sont armées de trois griffes. Les pattes antérieures, dirigées vers l'avant, cherchent à saisir le feu sacré tandis qu'une touffe de poils s'étire vers l'arrière. Cette conception particulière à cette dynastie lui confère une légèreté et une grâce unique. De plus, il émane de cet animal douceur et bonté.

1._tuile_ronde_dragon1Représenté exclusivement de profil, il est placé dans des cartouches rectangulaires, circulaires ou en forme de feuille de l'arbre Bodhi, où il se déploie et occupe entièrement l'espace. Il est représenté parmi des rinceaux stylisés ou des frises de vagues, de montagnes et de nuages4, attestant ainsi que le giao long vivait aussi bien sur terre, que dans l'eau ou dans le ciel.

On retrouve sur à la pagode de Nô Xa (prov. de Nam Hà), deux décors de dragons qui témoignent de leur symbolisme bouddhiste. Le dragon portant un bol de riz évoque un passage de la vie terrestre de Bouddha5. La légende veut qu'assis toute la nuit sous l'arbre de Bodhi (Ficus religiosa), le prince Saddharta reçoive l'Illumination. Au petit matin, les Rois Divins, venus des quatre points cardinaux, affluèrent, portant chacun un bol de riz que les serpents du Souverain de l'Ouest s'avancèrent pour l'offrir à Bouddha. Ce sujet, rarissime dans l'iconographie bouddhique, ne se rencontre nulle part ailleurs.

2._ant_fixe_dragon_bodhi1Le second, le plus usité, montre les "dragons rendant hommage au feu sacré" et fait référence à la crémation de Bouddha, après son entrée dans le Nirvâna. Lorsque le corps de Bouddha mis en bière fut déposé sur un bûcher de bois odorants, les princes Mallas s'approchèrent avec des torches pour l'allumer. Mais, ils ne parvinrent à faire jaillir le moindre feu. Ce n'est que lorsque Mahâkâçyapa a rendu hommage aux pieds du Bienheureux, le bûcher s'alluma spontanément pour ne s'éteindre que grâce à l'intervention des pluies célestes et des eaux souterraines. Ce thème est souvent confondu avec "les dragons rendant hommage à la lune"6. De plus, la référence au bouddhisme est accentuée à la forme du cartouche en feuille du Ficus religiosa7 dans lequel sont gravés ces dragons.

Le Bouddhisme occupa un rôle politico-socio-­religieux primordial durant la dynastie des Ly. L'empereur Ly Thai Tô, accédé au pouvoir grâce à l'aide du bonze Van Hanh, érigea le bouddhisme en religion d'État et nomma leurs bonzes dans les postes élevés. Fervents bouddhistes, ces successeurs entourèrent de faveurs constantes et de privilèges multiples. Ils offrirent de vastes domaines et de multiples serviteurs aux temples qu'ils firent bâtir. Ly Thai Tông fonda à lui seul en cinquante monastères. Si les rois Ly avaient utilisé la religion comme instrument de gouverne­ment, leur foi est sincère et a permis à la population de vivre pacifiquement.

4._st_le_de_vinh_lang1Les monastères bouddhistes ne furent pas seulement des centres religieux mais aussi des centres culturels actifs. L'art des Ly fut profondément imprégné de l'iconographie bouddhique. Le dragon Ly est une interprétation du Naja indo-cham à qui il aurait emprunté certains détails. Cependant, si le Naja n'est qu'une simple représentation du cobra royal, le dragon Ly est une véritable création humaine et incarne probablement l'Esprit Serpent, très vénéré dans la forêt vietnamienne. De plus, comme les pouvoirs spirituels et temporaires sont confondus et comme le dragon symbolise autant Bouddha que le roi. Sa représentation divinisée, sacrée respecte des règles strictes et ne subit aucune modification.

Ces dragons Ly furent si considérés que leur représentation persista jusqu'en 1433 comme sur le stèle de Vinh Lang (Lam Son, Thanh Hoa).

1 Tuile, grès revêtu d'une fine couverte ivoire grisâtre, dynastie des Ly, XIe-XIIe siècle, D. 14,50 cm, Musée National d'Histoire du Viêt-Nam, Hanoi.

2 D'après le Han shu, le jiaolong devient un dragon à l'âge de 500 ans. Il s'élève dans les nuages et plonge dans l'eau. Ses transformations sont multiples. Sa longueur est celle d'un serpent, son cri est semblable au buffle. Sa tête est petite, il a quatre jambes. Son cou est orné d'un goitre blanc. Les os de son corps sont bleu. Le dictionnaire chinois sous Kangxi définie cet animal comme un "dragon aquatique; il a la forme d'un serpent, mais avec quatre pattes et un cou grêle; autour du cou il y a un collier blanc; ses oeufs sont pareils à des jarres, de la contenance de dix à vingt boisseaux ; le mâle et la femelle s'accouplent par les sourcils d'où on nom jiao; sa taille et telle qu'il peut avaler un homme. On dit que le poisson tigre se transforme en giao, lorsqu'il est devenu gros ; on dit aussi que tous les poissons, lorsqu'ils ont atteint le poids de deux mille livres se transforment également en jiao".

3 Le motif "S" apparaît sur les céramiques de Phùng Nguyên (XVe-XIIe s. av. J.C.) et Dông Dâu (XIIe-Xe s. av; J.C.) comme sur les tambours de bronze de Dông Son. Symbolisant le tonnerre et de la foudre, il représente la prière du peuple agriculteur pour une pluie propice. Le dragon lui aussi conserve cette valeur emblématique puisqu'il est responsable de la formation des nuages et dispensateur de la pluie. Leur rencontre est devenue signe de bonne augure comme nous le témoigne ces vers de Nguyên Công Tru :

Rông mây khi gap hôi ua duyên

Dem quach ca so tôn làm sô dung

("Lorsque le dragon rencontre les nuages, ils se plaisent,

Prenons sans hésiter nos réserves pour les consumer").

4 Elément d'architecture, pierre grise, temple de Phât Tich, dynastie des Ly, 1057, L. 43 x 22,50 cm, Musée National d'Histoire du Viêt-Nam, Hanoi, LSb 19776.

5 On rencontre quatre passages où le serpent apparaît dans la vie de Bouddha

- A la naissance de Siddhârta, lorsque deux (ou neuf suivant les textes) dragons ou serpents se manifestèrent ; le premier cracha de l'eau tiède tandis que le second de l'eau froide pour baigner le jeune prince.

- Sur le chemin de Bodh-Gayâ, les rois des poissons et des serpents, ainsi que leurs ministres vinrent au devant du prince Siddhârta pour rendre hommage au Sauveur de l'Espèce.

- Le serpent offrant du riz.

- Après avoir reçu l'Illumination, Siddhârta, devenu Bouddha, resta assis encore un certain temps sous l'arbre. A la sixième semaine, une tempête s'abattit. Le roi des Najas, Muchalinda, surgissant en dessous de la terre, utilisa son corps pour former un trône à trois étages et sa tête se subdivisa en sept pour servir de parasol. Ce passage est le plus populaire dans l'iconographie bouddhique surtout dans les pays du Sud-Est asiatique comme la Birmanie ou le Cambodge où Jayavarman VII (r. 1181-1219) l'avait adopté comme la représentation suprême de Bouddha.

6 Ce décor n'apparaît que sous les Lê et Nguyên, s'inspirant de l'iconographie chinoise. La perle, le feu sacré, le tonnerre, la lune ou le soleil sont les multiples désignations de cette boule enflammée en Chine. Au Viêt-Nam, ce motif est surnommé" luong long triêu nguyêt, "dragons rendant hommage à la lune", lorsque l'astre est représenté par un disque à arêtes lancéolées et irrégulières, entouré de deux dragons dans une attitude respectueuse qui, en tant qu'habitants du ciel, l'accompagnent dans sa course. Certains ont vu dans ce décor une allusion à la fable chinoise du dragon qui veut dévorer le soleil au moment de l'éclipse, d'où la confusion en désignant ce motif par soleil. Une autre représentation montre deux dragons affrontés se disputant un disque enflammé. Il est surnommé Luong long tranh châu, "deux dragons se disputant la perle". Ils n'ont plus une attitude respectueuse, mais ont la patte de devant levée et les griffes ouvertes. A la Porte du Midi de Hué, parmi les dragons rendant hommage tantôt à la lune tantôt à la gourde de l'Immortalité, figurent d'autres regardant vers les quatre directions. Ils illustrent une phrase chinoise du IIe siècle av. J .C, "le dragon plane dans le ciel du midi" pour désigner la souveraineté et la protection impériale.

7 Antéfixe, pierre grise, dynastie des Ly, 1057, provenant de la pagode de Phât Tich, H. 26 cm, Musée National d'Histoire du Vietnam, Hanoi.

Posté par philippe truong à 13:58 - Le dragon dans l'art Vietnamien - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

01 mai 2006

Le dragon Han-Viêt

Le dragon chinois fut introduit au Viêt-Nam à partir de la domination Han (ler-IIIe siècle). Mais leur représentation fut rare. Les Viêts, refusant cet apport étranger à leur culture, adoptèrent l'éléphant comme totem.

dragon_mfaLe dragon ne figure que sur les productions Han-Viet destinées à l'usage des chinois ou des seigneurs Lac sinisés. Le Fine Art Museum de Boston possède un encensoir1 en bronze qui illustre parfaitement ce métissage dans l'art Han-Viêt. De forme chinoise, cet encensoir ronde repose sur trois petits pieds plats à motif de masque de monstre. Son décor ajouré révèle une influence du Yunnan (losanges ajourés) et de Dông Son (cercles concentriques). L'apport de Dông Son est parfaitement perceptible dans la grue qui sert de prise et, surtout, dans le personnage qui lui fait face. Ce dernier est adossé à une anse se terminant en tête de dragon.

Sur une brique découverte dans une tombe à Lim (prov. de Bac Ninh), datant du IIIe-IVe siècle, apparaît un dragon qui n'est qu'une copie fidèle du style Han.

1 Encensoir, bronze, IIIe siècle, H. 13,50 cm - L. 19 cm, Museum of Fine Arts, Boston, inv. 1991.90.

Posté par philippe truong à 13:54 - Le dragon dans l'art Vietnamien - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]



« Accueil  1