Các vật dưới đây nguyên trong bộ sưu tập gia đình tôi (Dương-Hà, Thành phố Hồ Chí Minh) đã bị thất lạc hoặc trộm cắp (tôi chưa xác định được). Tôi đăng trên mạng cho các bạn biết đừng mua lầm (phạm luật). Nếu ai có thấy nhờ thông báo cho tôi biết.

Bộ sưu tập gia đình do ông ngoại tôi, giáo sư Dương Minh Thới, thành lập trong những năm 1935-40, vơi mục đích là bảo vệ đồ cổ Việt – Trung Quốc tìm tại Việt Nam. Thời ấy, một số lớn đồ cổ tìm tại Việt Nam đã được đưa ra nước ngoài.

Trong bài viết « Les vieilles porcelaines de Chine et les vieux bleus de Huế » (đăng trong báo Education, tháng 9 1948), ông yêu cầu chính phủ Pháp thành lập một bảo tàng, Bảo tàng men lam : « Trong một vườn, xây dụng một nhà theo kiểu An Nam : cột gỗ trắc, khác sơn son thép vàng. Tronh nhà này, trình bày trong những tủ kính kiểu An Nam đồ cổ Việt Nam, liễn, tượng, bàn thờ, vv. Người du khách đến xem có thể biểu tượng đời sống người Việt. Còn học trò Việt đến xem khi nhìn các hình vẽ trên đồ sứ có thể hiểu các tích trong văn học Việt Nam ». Ông kết thúc : « Nếu chánh phủ Pháp không chấp nhận, tôi sẽ cố gắng tiếp tục bộ sưu tập cho các con cháu ». Tuy đề nghị ông được sự ủng hộ của các người như Louis Malleret (giám đốc bảo tàng Blanchard de la Brosse, hiện nay bảo tàng lịch sử Việt Nam, TPHCM) hoặc ông Henri Maspéro, nhưng không được thực hiện. Chuyện này, về sau, cụ Vương Hồng Sển có kể lại cho tôi nghe.

Mục đích của ông Dương Minh Thới không phải chỉ sưu tập đồ cổ đẹp và hiếm. Là một học giả, ông tìm những vật với đặc điễm nho giáo thể hiện trên họa tiết : bài thơ, tranh vẽ liên quan với một truyền thuyết hoặc một sử tích Hán-Việt. Kiểu thức trang trí gợi ý tưởng đuợc ông ưa chuộng nhứt. Công dụng cơ bản của kiểu thức trang trí hình ảnh gợi ý tưởng là thể hiện ý nghĩa thông qua mối quan hệ đồng âm giữa cái nhự ý (hình ảnh) và cái được ngự ý (thông điệp).

Chiều thứ tư và chiều thứ bẩy, ông thường hợp các cháu, lấy một tô hoặc một bình ra, cho chúng tôi xem, Sau khi đọc bài thơ đề trên vật, cắt nghĩa họa tiết, ông dùng đồ sứ như một quyển sách để giải thích một truyền thuyết hoặc một sử tích Hán-Việt. Vì vậy nên ông thường gọi bộ sưu tập của mình là « thư viện đồ sứ ». Cách bài giảng này khuyến cho tôi trở thành một nhà nghiên cứu cổ vật Việt Nam.

Trước khi mất, ông đã trừng dặn cho các con cháu là bộ sưu tập này của gia đình, không được quyền chia và bán cho ai cả. Lời dặn ấy, dì tôi, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, người quản lí, đã thường nhắc đến. Hiện nay, người anh bà con là người gìn giữ.

Từ năm 1992 đến năm 1998, tôi đã nghiên cứu các vật và thực hiện bộ kiểm kê.

Hiện nay, anh bà con đương kiểm tra lại thì chúng tôi khám phá ra rằng một số đồ đã bị thất lạc hoặc trộm cắp sau khi dì tôi mất, năm 2006. 

Vậy tôi xin đăng các vật này nhờ ai có thấy vùi lòng báo tin cho tôi biết. Thành thực cám ơn sự giúp đỡ của các bạn. 

binh_1

Bình ẩn sĩ ngũ thái 

Trung Quốc, niên đại Kiền Long (đề niên hiệu)

Cao : 45 cm

Hiệu đề : « Kiền long niên chế » viết theo lối chữ triện, men đỏ

Vẽ phong cảnh trong vườn (cây tùng, hoa cúc, vv), hai ông quan ngồi chơi cờ. Hai phụ nữ tiến đến, một cô cầm một mâm trên đó những món quà tượng trưng như một quả đào, một cây tùng bonsai, một quả Phật thủ và cô đi sau một cây ngọc như ý, tạo thành lời cầu chúc « phúc thọ như ý ». Một con cò bay trên trời, nhìn xuống ông quan (biểu tượng cho đạo đức, đức tín, đạo lý của ông này). Như vậy, bức tranh trên bình miêu tả đời sống của một người quan đạo lý, sau khi hoàn thành nghiệm vụ, lui về đồng.

hinh_2

Cặp bình nền men lam phung vẽ rồng vàng 

Trung Quốc, thời Khang Hy (1662-1722)

Cao : 40,30 cm

Không hiệu đề

Nền men lam phung (Pháp gọi là « bleu poudré »), trên phần giữa thân và trên cổ, vẽ vàng lưỡng long tranh châu, ở phía chân văn cánh sen, trên vai chử Thọ và hoa sen dây và bờ miệng văn như ý.

hinh_3

Bình nền đen nâu bóng vẽ chử Thọ

Trung Quốc, nhà Thanh, giữa thế kỷ 18,

Cao : 35,30 cm

Không hiệu đề

Nền màu đen nâu bóng (Pháp gọi là « noir miroir ») vẽ vàng trên thân 3 đương chử Thọ, gần chân văn cánh sen, trên vai hoa văn như ý và vơi, trên cổ một đường chử Thọ. Đây là một hòa mừng thọ tặng cho lão gia.

hinh_4hinh_4_2

Cặp bình Khương Thượng, men trắng vẽ men mực nâu đen, men dỏ, xanh lục và vàng.

Trung Quốc, niên đại Khang Hy và Kiền Long

Cao : 35,50 cm

Hiệu đề : hai vòng (« double cercle ») men lam và « Đại Thanh Kiền Long niên chế » màu đỏ

Vẽ men mực nâu đen (theo ông John Ayers, men mực nâu đen được thực hiện bằng pha men chì trắng, men lam và men xanh lục), tô men dỏ, xanh lục và vàng, vua nhà Châu đến sông Vị Thủy rước Khương Thượng (tức Khương Tử Nha) đang ngồi câu cá, về làm Thừa tướng dánh Trụ, dựng nghiệp lớn cho nhà Châu.

Bình dưới đáy vẽ men lam hai vòng (thời Khang Hy) có kiểu duyên dáng và don dỏn cao hơn ; cách vẽ tỉ mỉ và mịn. Còn binh với niên hiệu « Đại Thanh Kiền Long niên chế », viết màu đỏ, là một vật chế sau, có thể khi một trong hai bình Khang Hy đã bị vỡ.

hinh_5

Cặp bình sơn thủy, sứ men lam 

Trung Quốc, nhà Thanh, thế kỷ 18

Cao : 44 cm

Không hiệu đề.

Hai bình đều vẽ một phong cảnh tương tự với hai tòa nhà và hai cây cầu. Một mặt, một thanh niên ngồi trong nhà, cây  cối còn dại, cầu bằng đá. Mặt kia, trong một tòa nhà tương tự, người thanh niên đã trở thành cụ lão, trong vườn cây tùng thay cho cây dại, cầu có lan can, chứng tỏ rằng đồi ấn sĩ. Vã lại, phía sau vẽ cây trong cụm mây biểu tượng cho thiên đường. Cách vẽ rất kỹ.

Trên binh thứ nhì, vẽ phong cảnh tương tự nhưng không nhân vật.

hinh_6

Bình Bát Tiên ngũ thái 

Trung Quốc, nhà Thanh, thế kỷ 18

Hinh_7

Dĩa pháp lam vẽ Trúc Lâm thất hiền 

Trung Quốc, nhà Thanh , thế kỹ 18

hinh_8

Hinh_8_2

Hinh_8_3

Khai Nhị thập tứ hiếu bằng ngà 

Việt Nam, thế kỷ 19