Les Carnets de Philippe Truong

"Celui qui sait une chose ne vaut pas celui qui l'aime. Celui qui aime une chose ne vaut pas celui qui en fait sa joie" (Confucius)

16 novembre 2009

Edit royal vietnamien datant de 1610

Le plus long (45 mètres) édit royal, nomination du mandarin Nguyên Van Giai, vient d'être retrouvé dans la maison de culte de la famille Nguyên Van Giai. En soie jaune, portant le sceau royal du Dai Viêt, il date de la 11e année de l'ère Hoang Dinh (1610), sous le règne du roi Lê Kinh Tông.

Posté par philippe truong à 21:35 - Art Vietnamien - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

29 octobre 2009

ĐỒ SỨ ANH QUỐC NGỰ DỤNG THỜI MINH MẠNG

Vua Minh Mạng (1820-1841) từ chối thiết lập mối quân hệ chính thức, ngoại giao hoặc ký hiệp ước thương mại với các quốc gia châu Âu, vừa để bảo vệ chủ quyền và đồng thời ngăn trở mọi xâm lược quân sự và truyền giáo. Đối lại, quốc gia Việt Nam không tồng tại nếu không học hỏi về khoa học kỹ nghệ, nhứt là về mặt quân sự. Với ý nghĩa ấy, vua cho xây dựng chương trình dạy tiếng phương Tây và gửi quan lại ra nước ngoài để học hỏi them. Còn về quan hệ buôn bán với các nước Châu Âu, ông đã giải thích trong bức thư cho vua Pháp, Louis XVIII, « Nếu thần dân của ngài mong muốn đặt quan hệ thông thương với xứ sở của chúng tôi, họ cứ tuân theo luật lệ của nước Nam là đủ ».

Đối với Anh quốc, vua Minh Mạng cũng có chính sách đối xử tương tự, vua từ chối mọi mối quan hệ ngoại giao nhưng lại chấp nhận việc giao thương. Năm 1822, một phái bộ Anh quốc do John Crawfurd làm trưởng đoàn đến Gia Định và được tổng trấn Lê Văn Duyệt tiếp đón. Ngày 25 tháng 9, được yết kiến vua Minh Mạng tại Huế. Nhà vua khước từ mọi mối quan hệ ngoại giao nhưng lại cho phép Công ty Đông Ấn Anh giao thương với những điều kiện thuận lợi giống như với người Trung Quốc hoặc người Pháp.

Tháng 8 năm 1823, tiếp theo sau phái bộ của Crawfurd, có hai thương thuyền Anh cập cảng Đà Nẵng. Hàng hóa của họ không được vua Minh Mạng đánh giá cao, nên chỉ mua một vài món đồ nhỏ nhặt (theo lời ông Salles trong bài « Jean Baptiste Chaigneau et sa famille », Bulletin des Amis du Vieux Huê, 1923, n°1, tr. 91-92). Trong đó có một bộ đồ ăn bằng sành sứ do xưởng Spode sản xuất.

Josiah Spode (1733-1797) khởi sự chế tác đồ gốm tại Stoke-on-Trent (Staffordshire, Anh quốc) sau những năm học hỏi với Thomas Wieldon. Ông đưa ra một loại sành sử cốt cúng bền vững bone china không frit với 50% tro xương. Sự hổn hợp giữa tro xương và silica tạo thành một vật chất tong suốt như men. Ông cũng là người đầu tiên dùng kỷ thuật chuyển họa dưới lớp men phủ (vào năm 1782). Trong dòng vài năm, ông thiết lập được một nền kinh doanh phát triển. Josiah Spode II rời thương quán Luân Đôn để kế nghiệp cha quản lý xưởng Stoke-on-Trent. Nawm 1800, ông cải tiếng kỷ thuật và tạo ra một loại đồ sành sứ với xương trắng và men trong. Từ đó bone china được sử dụng trong nhiều xưởng như Minton, Davenport, Derby, Wedgwood. Josiah Spode II đưa ra rất nhiều hoa văn mới (bao gồm các hoa văn nổi danh như: lam ý, Thực vật, hiện nay còn sử dụng) để đáp ứng nhu cầu càng ngày càng tăng vì những cuộc viễn chinh tranh nên làm giảm mạnh những nguồn cung cấp đồ sứ Trung Quốc. Suốt giai đoạn này, Spode đã đưa ra một loại đồ sứ bền chắc hơn, đó là đồ sành sứ được gọi là stone china. Từ đó, nhiều loại cốt gốm mới được chế tác. Năm 1827 Josiah Spode III lại kế nghiệp cha mình nhưng chỉ 2 năm sau ông qua đời. Thế là ông W.T. Copeland, con trai của William Copeland, người chào hàng và giám đốc thương quán ở Luân Đôn của Spode, lên nắm quyền quản lý. W.T. Copeland mua lại xưởng vào năm 1833 và cùng chung phần với Thomas Garrett, một nhân viên của anh ta ở Luân Đôn, cho đến khi Garrett về hưu năm 1847. Xưởng Copeland lúc đó vẫn rất thịnh vượng, lại tiếp tục dưới cái tên W.T. Copeland. Cái tên Spode nổi tiếng không bao giờ bị loại bỏ hoàn toàn và vẫn còn được sử dụng.

Cho đến nay, trong bộ Spode được vua Minh Mạng sở hữu, chỉ hai dĩa tráng miệng và hai tách trà đã được khám phá nhưng dấu vết của hai vật không thể lần ra. Đó là hai cổ vật do Louis Dumoutier trích dẫn trong « Sur quelques porcelaines européennes décorées sous Minh Mang », Bulletin des Amis du Vieux Huê, 1914, n°1, tr. 47-50) : tách trà nguyên trong bộ sưu tập của linh mục Chính (Hội Yên, Quảng Trị) và dĩa nguyên sưu tập của linh mục de Pirey.

Spode_mark

Dưới nền dĩa có ghi tay, màu đỏ hiệu đề Spode và 3466. Hiệu đề này thường được sử dụng trong thời gian từ 1799 dến 1833. Còn số 3466 đề dưới nền dĩa hoặc dưới nền tách, như trên tách nguyên trong bộ sưu tập của Linh mục Chính, là số hoa văn. Hoa văn này được ghi vào sổ sách của xưởng Spode năm 1822. Tùy theo kỹ thuật tạo hình hoặc hoa văn, họa tiết được gọi là chạm nổi Pháp hoặc hoa dây.

Mod_le_tasse_Spode_Blogg

Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế hiện đang lưu giữ một chiếc tách(1), tương tự với tách của linh mục Chính, nhưng không có hiệu đề in dưới nền. Chiếc tách trà bằng sành sứ này được tạo dáng theo kiểu Luân Đôn, kiểu tiêu biểu cho sản phẩm của Spode trong những năm 1820. Trang trí đắp nổi gồm hai dải song song, tận cùng bằng những vòng cuộn, hoa và một cái nơ. Phía trên chân tách có một đường viền dạng hạt trai. Một đường chỉ vàn được vẽ quanh miệng (bên trong và ngoài) cùng trên đế.

Tasse_Hue_blogg

Vì trang trí nguyên thủy quá giản dị, không thích họp với đồ ngự dụng, nên vua Minh Mạng hạ lệnh, năm 1824, cho tượng cục tăng họa. Đưới nền có đề thêm dòng chữ Hán: 明命五年增畫, Minh Mạng ngũ niên tăng họa. Lúc đầu, nghệ nhân chỉ tô điểm thêm men màu lên trên các hình nổi và vẽ them một số mô típ nhỏ như bông hoa. Một điều nên chú ý là bông hoa được vẽ theo lối phương Tây để họp với hoa văn. Sự hiện diện các hoa tiết hoa hồng chứng minh răng ngay 1824 nhà vua đã dùng họa tiết trên đồ sành sứ Anh quốc (hoặc trên đồ sứ Trung Quốc xuất khẩu cho châu Âu) để làm mẫu.

Mark_tasse_MM_5e_blogg

Đức vua hài lòng với công việc trang trí của các thợ nhân, nên vào năm 1825, vua tiếp tục cho tăng họa những cái dĩa dưng đồ tráng miệng của bộ Spode. Khi này, nhà vua lại chọn một hoa văn theo mẫu Hán - Việt. Đó là hoa văn bách cổ. Để tránh sự xung khắc giữa lối trang trí châu Âu với lối trang trí châu Á, các họa sĩ đương thời đã không tô hình nổi mà vẽ them một đường viền. Dưới đáy món đồ cũng có ghi dòng lạc khoản 明命六年增畫, Minh Mạng lục niên tăng họa.

Mark_MM_6e_ann_e_blog

Viện Bảo tàng Lịch sử Hồ Chí Minh còn lưu giử một dĩa(2). Trong lòng vẽ một mâm ngũ quả đặt trên một chiếc đôn; dưới chân đôn, một bên có gác một cây đàng nguyệt, một đôi song lan; một bên có đặt một chiếc bàn gỗ với một cái trách trà có nắp và một nghiên mực, bên dưới kế chân bàn một bình đụng nước hình con ếch, một cái giá hình núi với hai bút lông. Trang trí biểu dương âm nhạc (đàn nguyệt, đôi song lan) và văn chương (bút, nghiên mực).

Assiette_Spode_HCM_blogg

Trên dĩa nguyên trong bộ sưu tạp của Linh Mục de Pirey(3), có vẽ them một cái giỏ đan đựng hoa và trái cây, một cái bình đặt trên một đế thấp và một cánh san hô, một cái quạt, hai lông chim trĩ, một cuốn thư và một cây như ý có treo một kim khánh, phía sau cùng là một bàn cờ đặt sát đất với hai cái giỏ đựng quân cờ. Kiểu trang trí này ca tụng hội họa (cuốn thư, bút) và trò chơi (quân cờ). Vả lại, trong trinh thần hội họa Trung Hoa, hoa văn bách cổ biểu tượng cho lời chúc, theo kiểu thức trang trí dùng hình gọi ý. Ví dụ, trong bình hoa (còn được gọi là bảo bình biêut thị cho ý bảo vệ bình an) có cắm nhiều vật khác miêu tả lời ước vọng của người trang trí: một cánh san hô (sự thăng chức), hai lông chim trĩ (quan chức và bộ máy hành chính), một cuốn thư (văn nghiệp) và một cây như ý (toại nguyện) có treo một kim khánh (vui mừng). Lời cầu nguyện ấy không thích hợp cho nhà vua. Vì vậy, nên dưới thời Minh Mạng, bách cổ tượng trung cho bốn cái thú của người xưa : cầm, kỳ, thi họa.

Assiette_Pirey_Blogg

Ngoài bộ Spode, viện bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế còn lưu giử một bình trà(4) xuất biên từ Trung quốc cho thị trường châu Âu. Hình dáng của bình trà, với núm cầm hình quả dâu tây, phỏng theo kiểu của bình trà Anh quốc bằng bạc vào những năm 1780.

Thi_re_repeinte_MM

Năm 1831, vua Minh Mạng cho vẽ them một bó hoa, sao theo mẫu châu Âu. Họa sĩ vẽ thê hình trang trí với màu sắc đa dạng, nổi bật trên nền men trắng sáng. Căn cứ trên trang trí, bình trà này có thể dùng chung với tách trà bộ Spode. Dưới đáy cũng có dòng lạc khoản chữ Hán: 明命十二年增畫, Minh Mạng thập nhị niên tăng họa.

CHÚ THÍCH

(1) Tách trà, Anh quốc, khoảng 1822, Spode (Stroke-on-Trent, Staffordshire), sành sứ, men màu tăng họa, đường kính miệng: 7,60cm, chiều cao: 5,20cm, hiệu đề: Minh Mạng ngũ niên tăng họa, Huế, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, số kiểm BTH 65/S-1/GM-4162.

(2) Dĩa, Anh quốc, khoảng 1820, Spode (Stroke-on-Trent, Staffordshire), sành sứ, men màu tăng họa, cạnh dài: 21cm, chiều cao: 2,60cm, hiệu đề: Spode / 3466 (in màu đỏ) và Minh Mạng lục niên tăng họa, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam- TP HCM, số kiểm kê BTLS.102.

(3) Dĩa, Anh quốc, khoảng 1820, Spode (Stroke-on-Trent, Staffordshire), sành sứ, men màu tăng họa, cạnh dài: 21cm, chiều cao: 2,60cm, hiệu đề: Spode / 3466 (in màu đỏ) và Minh Mạng lục niên tăng họa, nguyên thủy thuộc sưu tạp của Linh Mục de Pirey.

(4) Bình trà, Trung quốc xuất khẩu cho thị trường châu Âu, đầu thế kỷ 19, sứ, men màu tăng họa, chiều cao: 14cm, hiệu đề: Minh Mạng thập nhị niên tăng họa, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, số kiểm kê BTH.519/S-1/GM-2907.

Posté par philippe truong à 13:48 - Céramique européenne commandée pour le Vietnam - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

25 octobre 2009

Exposition de peintures religieuses vietnamiennes (Hanoi)

D'après le Vietnamnews du 23.10.2009

Peinture_religieuse_Dao

Divine work: This ceremonial painting of Dao ethnic group is on display. — VNS Photo Viet Thanh

Ceremonial paintings exhibited in full glory

HA NOI — An incomparable carpenter, opened an exhibition yesterday in Ha Noi displaying his valuable collection of Vietnamese Ceremonial Paintings, the result of nearly 20 years of labour.

Pham Van Si began collecting ceremonial paintings since 1990. When some aspects of cultural heritage were on the verge of being lost, Si and his friends Nguyen Linh and Tran Hanh made a commitment to preserve vital cultural artefacts.

Linh collected pottery from the Ly (1010-1225) and Tran (1225-1400) dynasties and the brilliant works of painter Nguyen Tu Nghiem. Hanh focused on enamelled ceramics and Si collected ceremonial paintings of people in mountainous regions. To compile their collections, they have had to work hard to earn money.

Si worked as a carpenter framing paintings at The Ha Noi University of Fine Arts. He became known as the most famous framer thanks to his creativity and meticulous work. His products were of high standard and pleasant aesthetic appeal.

Now Si has 400 ceremonial paintings collected from a variety of ethnic groups. The exhibition displays only 120 of his collection. He said he want to publish a book illustrating the paintings. He hoped that the collection will make it easier to study the aesthetics, customs, culture, history and beliefs of different ethnic groups.

"I didn’t learn fine arts and develop knowledge on ceremonial paintings from any school," he says, "I’ve learnt everything I know through my trips."

Thinking back, Si cannot explain why he chose to collect ceremonial paintings. "Everything comes to me through karma."

Ceremonial paintings are not only beautiful, he said, they are spiritual and seem contain invisible power thanks to painters’ talent. As a normal carpenter, opening an artistic exhibition wasn’t easy for Si, but after spending years collecting, his dream has been to share his collection of artistic treasures with others.

"Si’s exhibition is meaningful while traditional characters and value are concerned," says art critic Phan Cam Thuong. "Developing mutual cultural understanding can help Vietnam’s ethnic groups become closer."

Thuong praised Si as standing among the masters of ceremonial paintings.

Ethnic groups such as the Kinh, Dao, Tay, Cao Lan and Nung have ceremonial paintings in different styles expressing their own belief and customs, according to painter Do Duc.

They were used for ceremonies and worshipping in the past. Serving spiritual activities, they were considered superstitious and disappeared from circulation. Many were hoarded by herbalists and sorceress. When they passed away, the paintings were often buried together with them. That’s reasons why many ceremonial paintings have been lost.

No one dares admit their knowledge of the spiritual world. The world outlook of ancestors is expressed through ceremonial paintings and should be explored, says painter Duc.

"Ceremonial paintings still preserve their cultural, traditional and artistic value expressing inner soul of people," he says.

It’s time to erase the prejudice against the art, and recognise its cultural and artistic value, Duc says.

The exhibition will run until this Sunday at Viet Art Centre, 42 Yet Kieu Street, Ha Noi. — VNS

Posté par philippe truong à 22:36 - Exposition - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

22 octobre 2009

BUSTE EN BRONZE DORE DE L’EMPEREUR KHAI DINH PAR PAUL DUCUING (1922).

Bronze_buste_KD

Dans la vitrine d’une boutique numismatique du Palais Royal, figure actuellement un bronze doré de l’empereur Khai Dinh par Paul Ducuing (1868-1945). Ce buste a été offert par le souverain d’Annam au Duc de Valençay, Boson de Talleyrand-Périgord (1867-1952), en remerciement de son hospitalité lors de son séjour en France (1922).

Photo_KD

Grâce son amitié avec Albert Sarraut, ministre des Colonies et ancien Gouverneur Général de l’Indochine, Paul Ducuing fut chargé d’une mission en Indochine (décembre 1921-février 1922) pour le Ministère des Colonies. Il reçut plusieurs commandes publiques comme les bustes ou statues des souverains d’Annam (Khai Dinh), de Luang Prabang (ou Laos, Sisavong), du Cambodge (Sisowath). De retour an France, il demanda alors un congé à la manufacture de Sèvres (où il occupait le poste de Directeur des Travaux de biscuit et professeur de sculpture) qu’il fit prolonger pour « terminer d’importantes commandes officielles » jusqu’en 1924.

Durant son séjour en Annam, il fut reçu par l’empereur Khai Dinh qui lui commanda une statue grandeur nature pour son tombeau. Paul Ducuing commença par exécuter un buste à la française du souverain (1922). Khai Dinh est représenté dans son costume de jour ordinaire, revêtu d’une tunique vietnamienne en brocard de soie à motif de dragon, le front ceint d’un turban. Le grand cordon du Dragon d’Annam barre sa poitrine. Il arbore à la seconde boutonnière une plaque rectangulaire en or, appelée bài, et à gauche la grande plaque du Dragon d’Annam (pour plus d’information, cf. rubrique « décoration vietnamienne »).

00340m

Le Musée du Quai d’Orsay (Fond historique) conserve un plâtre peint doré (H. 77,50 cm) provenant du Ministère des Colonies puis déposé au Musée National des Arts d’Afrique et d’Océanie (1946). Ce buste a été présenté au Pavillon de l’Annam lors de l’Exposition Coloniale Internationale de Paris (1931).

D’autres exemplaires similaires furent reproduits en plâtre comme celui actuellement conservé dans une collection particulière à Hanoi (cf. photo ci-dessus).

bao_dai___buste_KD_Ducuing

Paul Ducuing fit réaliser par la maison Barbédienne deux tirages en bronzes, de tailles et de patines différentes.

Il semblerait que le premier tirage est une réduction (H. 34,50 cm) en bronze doré. Il porte la signature du sculpteur et le cachet du fondeur « Cire perdue / F. Barbédienne / Paris ». mai 1922, lors de sa visite à l’Exposition Coloniale de Marseille, l’empereur avait pu découvrir son buste. Il commanda plusieurs exemplaires dont celui qui figure sur le bureau du prince héritier Vinh Thuy (le futur empereur Bao Dai) à Paris et cet exemplaire pour le duc de Valençay. Un bronze a été vendu à Drouot (Etude Binoche, 09 juin 1997, pour la somme de 3 800 Francs).

Bronze_KD_patine_noir

Il existe un autre tirage, revêtu d’une patine vert-noir, qui est une reproduction conforme du plâtre, dont un exemplaire a été vendu par Sotheby’s, New York, le 14 avril 2008 pour la somme de 15 000 $.

Posté par philippe truong à 13:58 - Statues et bustes des empereurs d'Annam - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

Vài vật trong bộ sưu tập gia đình bị thất lạc (hoặc trộm cắp).

Các vật dưới đây nguyên trong bộ sưu tập gia đình tôi (Dương-Hà, Thành phố Hồ Chí Minh) đã bị thất lạc hoặc trộm cắp (tôi chưa xác định được). Tôi đăng trên mạng cho các bạn biết đừng mua lầm (phạm luật). Nếu ai có thấy nhờ thông báo cho tôi biết.

Bộ sưu tập gia đình do ông ngoại tôi, giáo sư Dương Minh Thới, thành lập trong những năm 1935-40, vơi mục đích là bảo vệ đồ cổ Việt – Trung Quốc tìm tại Việt Nam. Thời ấy, một số lớn đồ cổ tìm tại Việt Nam đã được đưa ra nước ngoài.

Trong bài viết « Les vieilles porcelaines de Chine et les vieux bleus de Huế » (đăng trong báo Education, tháng 9 1948), ông yêu cầu chính phủ Pháp thành lập một bảo tàng, Bảo tàng men lam : « Trong một vườn, xây dụng một nhà theo kiểu An Nam : cột gỗ trắc, khác sơn son thép vàng. Tronh nhà này, trình bày trong những tủ kính kiểu An Nam đồ cổ Việt Nam, liễn, tượng, bàn thờ, vv. Người du khách đến xem có thể biểu tượng đời sống người Việt. Còn học trò Việt đến xem khi nhìn các hình vẽ trên đồ sứ có thể hiểu các tích trong văn học Việt Nam ». Ông kết thúc : « Nếu chánh phủ Pháp không chấp nhận, tôi sẽ cố gắng tiếp tục bộ sưu tập cho các con cháu ». Tuy đề nghị ông được sự ủng hộ của các người như Louis Malleret (giám đốc bảo tàng Blanchard de la Brosse, hiện nay bảo tàng lịch sử Việt Nam, TPHCM) hoặc ông Henri Maspéro, nhưng không được thực hiện. Chuyện này, về sau, cụ Vương Hồng Sển có kể lại cho tôi nghe.

Mục đích của ông Dương Minh Thới không phải chỉ sưu tập đồ cổ đẹp và hiếm. Là một học giả, ông tìm những vật với đặc điễm nho giáo thể hiện trên họa tiết : bài thơ, tranh vẽ liên quan với một truyền thuyết hoặc một sử tích Hán-Việt. Kiểu thức trang trí gợi ý tưởng đuợc ông ưa chuộng nhứt. Công dụng cơ bản của kiểu thức trang trí hình ảnh gợi ý tưởng là thể hiện ý nghĩa thông qua mối quan hệ đồng âm giữa cái nhự ý (hình ảnh) và cái được ngự ý (thông điệp).

Chiều thứ tư và chiều thứ bẩy, ông thường hợp các cháu, lấy một tô hoặc một bình ra, cho chúng tôi xem, Sau khi đọc bài thơ đề trên vật, cắt nghĩa họa tiết, ông dùng đồ sứ như một quyển sách để giải thích một truyền thuyết hoặc một sử tích Hán-Việt. Vì vậy nên ông thường gọi bộ sưu tập của mình là « thư viện đồ sứ ». Cách bài giảng này khuyến cho tôi trở thành một nhà nghiên cứu cổ vật Việt Nam.

Trước khi mất, ông đã trừng dặn cho các con cháu là bộ sưu tập này của gia đình, không được quyền chia và bán cho ai cả. Lời dặn ấy, dì tôi, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, người quản lí, đã thường nhắc đến. Hiện nay, người anh bà con là người gìn giữ.

Từ năm 1992 đến năm 1998, tôi đã nghiên cứu các vật và thực hiện bộ kiểm kê.

Hiện nay, anh bà con đương kiểm tra lại thì chúng tôi khám phá ra rằng một số đồ đã bị thất lạc hoặc trộm cắp sau khi dì tôi mất, năm 2006. 

Vậy tôi xin đăng các vật này nhờ ai có thấy vùi lòng báo tin cho tôi biết. Thành thực cám ơn sự giúp đỡ của các bạn. 

binh_1

Bình ẩn sĩ ngũ thái 

Trung Quốc, niên đại Kiền Long (đề niên hiệu)

Cao : 45 cm

Hiệu đề : « Kiền long niên chế » viết theo lối chữ triện, men đỏ

Vẽ phong cảnh trong vườn (cây tùng, hoa cúc, vv), hai ông quan ngồi chơi cờ. Hai phụ nữ tiến đến, một cô cầm một mâm trên đó những món quà tượng trưng như một quả đào, một cây tùng bonsai, một quả Phật thủ và cô đi sau một cây ngọc như ý, tạo thành lời cầu chúc « phúc thọ như ý ». Một con cò bay trên trời, nhìn xuống ông quan (biểu tượng cho đạo đức, đức tín, đạo lý của ông này). Như vậy, bức tranh trên bình miêu tả đời sống của một người quan đạo lý, sau khi hoàn thành nghiệm vụ, lui về đồng.

hinh_2

Cặp bình nền men lam phung vẽ rồng vàng 

Trung Quốc, thời Khang Hy (1662-1722)

Cao : 40,30 cm

Không hiệu đề

Nền men lam phung (Pháp gọi là « bleu poudré »), trên phần giữa thân và trên cổ, vẽ vàng lưỡng long tranh châu, ở phía chân văn cánh sen, trên vai chử Thọ và hoa sen dây và bờ miệng văn như ý.

hinh_3

Bình nền đen nâu bóng vẽ chử Thọ

Trung Quốc, nhà Thanh, giữa thế kỷ 18,

Cao : 35,30 cm

Không hiệu đề

Nền màu đen nâu bóng (Pháp gọi là « noir miroir ») vẽ vàng trên thân 3 đương chử Thọ, gần chân văn cánh sen, trên vai hoa văn như ý và vơi, trên cổ một đường chử Thọ. Đây là một hòa mừng thọ tặng cho lão gia.

hinh_4hinh_4_2

Cặp bình Khương Thượng, men trắng vẽ men mực nâu đen, men dỏ, xanh lục và vàng.

Trung Quốc, niên đại Khang Hy và Kiền Long

Cao : 35,50 cm

Hiệu đề : hai vòng (« double cercle ») men lam và « Đại Thanh Kiền Long niên chế » màu đỏ

Vẽ men mực nâu đen (theo ông John Ayers, men mực nâu đen được thực hiện bằng pha men chì trắng, men lam và men xanh lục), tô men dỏ, xanh lục và vàng, vua nhà Châu đến sông Vị Thủy rước Khương Thượng (tức Khương Tử Nha) đang ngồi câu cá, về làm Thừa tướng dánh Trụ, dựng nghiệp lớn cho nhà Châu.

Bình dưới đáy vẽ men lam hai vòng (thời Khang Hy) có kiểu duyên dáng và don dỏn cao hơn ; cách vẽ tỉ mỉ và mịn. Còn binh với niên hiệu « Đại Thanh Kiền Long niên chế », viết màu đỏ, là một vật chế sau, có thể khi một trong hai bình Khang Hy đã bị vỡ.

hinh_5

Cặp bình sơn thủy, sứ men lam 

Trung Quốc, nhà Thanh, thế kỷ 18

Cao : 44 cm

Không hiệu đề.

Hai bình đều vẽ một phong cảnh tương tự với hai tòa nhà và hai cây cầu. Một mặt, một thanh niên ngồi trong nhà, cây  cối còn dại, cầu bằng đá. Mặt kia, trong một tòa nhà tương tự, người thanh niên đã trở thành cụ lão, trong vườn cây tùng thay cho cây dại, cầu có lan can, chứng tỏ rằng đồi ấn sĩ. Vã lại, phía sau vẽ cây trong cụm mây biểu tượng cho thiên đường. Cách vẽ rất kỹ.

Trên binh thứ nhì, vẽ phong cảnh tương tự nhưng không nhân vật.

hinh_6

Bình Bát Tiên ngũ thái 

Trung Quốc, nhà Thanh, thế kỷ 18

Hinh_7

Dĩa pháp lam vẽ Trúc Lâm thất hiền 

Trung Quốc, nhà Thanh , thế kỹ 18

hinh_8

Hinh_8_2

Hinh_8_3

Khai Nhị thập tứ hiếu bằng ngà 

Việt Nam, thế kỷ 19

Posté par philippe truong à 11:07 - Collection Duong-Hà, Ho Chi Minh-Ville, Vietnam - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

10 octobre 2009

THANG LONG, histoire d'une ancienne capitale

Posté par philippe truong à 17:02 - Tourisme culturel - Commentaires [1] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

LE THIEN PHUC TRAN BAO, MONNAIE DES LE (984-1005).

L’empereur Đinh Tiên Hoàng et son fils aîné, le prince Đinh Liễn, furent assasinés par un officier du Palais en 979. Le jeune prince, Đinh Toàn, âgé de 6 ans, fut placé sur le trône. Le pouvoir était concentré dans les mains du Généralissime Lê Hoàn, qui entretenait des remations avec l’impératrice-mère, dame Dương. La situation était alors trouble, des rebellions éclataient dans le royaume. Profitant de cette situation, les Song envisagèrent d’envahir le Đại Việt et de rétablir la domination chinoise. Devant cette situation menaçante, sur la demande de l’armée, l’impératrice-mère posa sur les épaules de son amant le manteau à dragon d’or, le reconnaissant comme souverain. Lê Hoàn devint roi en 980 sous le nom de Lê Đại Hành et prit le nom de règne de Thiên Phúc (980-988). Il rétrograda le jeune souverain, Đinh Toàn, qui reçut le titre de roi Vệ Vương ; les Annales du Vietnam ne le désigne désormais que sous le nom de Phế Đế (« Roi détrôné »).

Durant les premières années de son règne, Lê Đại Hành (980-1005) dut repousser les Song au Nord, les Chams au Sud et instaurer la paix dans le royaume.

Au « printemps, 2e mois de l’année Giáp Thân, 5e année de l’ère Thiên Phúc (984) », selon les Annales, le souverain fit fondre la monnaie Thiên Phúc 天福.

La seule monnaie en cuivre (D. 24-25,5 mm, P. 2,5-3,8 gr) portant l’inscription Thiên Phúc est le Thiên Phúc trấn bảo天福鎮寶 (« monnaie protectrice de l’ère Thiên Phuc ») que tous les chercheurs et les collectioneurs considèrent comme monnaie de Lê Dai Hành.

TPTB_1TPTB_2TPTB_4

TPTB_3TPTB_5TPTB_6

Il existe deux sortes de revers :

M___t_sau_ti___n_THI__N_PH__C_TR___N_B___O

1. Le revers vide est assez rare.

TPTB_RV

2. Le caractère Lê (nom de famille du souverain) inscrit au dessus du trou central. Il existe plusieurs graphies différentes : stylisée ou non, fine ou épaise, parfois même large.

TPTB_R1TPTB_R2TPTB_R3

TPTB_R4TPTB_R5TPTB_R7

TPTB_R6

En dehors de ces deux revers, seul Toda, dans son Annam and its minor currency, cite une monnaie particulière avec sur une face le caractère Lê en dessous du carré central et au revers vide. Cette pièce est certainement une erreur du fondeur qui avait confondu les deux moules du revers.

4

Posté par philippe truong à 16:58 - Numismatique vietnamienne - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

09 octobre 2009

ASSIETTE A DECOR DE CHEN TUAN, PORCELAINE (commandée en Chine durant la période) TAY SON (1778-1802)

La vaisselle, produite dans les fours minyao, le plus souvent de qualité médiocre et à décor naïf où figure un poème en nôm (variante du chinois conçue au XIIIe siècle par Nguyễn Thuyến pour les Vietnamiens), est considérée comme faisant partie des Porcelaines (commandées durant la période) Tây Son. La marque figurant sur la base est Trân Ngoạn 珍玩 (« bibelot précieux »). 

Ces commandes ne furent pas destinées aux souverains Tây Son. Nous savons qu’en 1786, Nguyễn Huệ (le futur empereur Quang Trung, 1788-1792), le général-en-chef de l’armée Tây Son, marcha sur le Nord, alors domaine du seigneur Trinh, entra triomphalement dans Thang Long (Hanoi) et restitua le pouvoir au roi Lê Hiển Tông (1740-1786). Il s’installa temporairement dans la résidence des Trinh. Lorsque Nguyên Huê retourna à Phú Xuân (Huế), il pilla cette demeure et emporta tout le trésor des Trinh. Ainsi, les souverains Tây Son disposaient dans leur palais de Pu Xuân toute la vaisselle en porcelaine chinoise commandées par les seigneurs Trinh, les Porcelaines Trinh.

Les porcelaines Tây Son sont rares. Ce sont des commandes privées probablement des ambassadeurs lors de leur mission en Chine. A ce jour seules quelques pièces sont attribuées à cette période comme cette assiette provenant d’un service à thé, en porcelaine blanche à décor peint en cobalt sous couverte montrant un cavalier se dirigeant vers un homme adossé à un prunier en fleur. Un poème en nôm est écrit en haut à droite :

摸(.)論制時事

         我(.)明課太平 

            Mó rận luận chơi thời sự

            Ngã lừa mừng thuở thái binh.

(trad :

« Maladroit de ses doigts comme un pou, il discute facétieusement des affaires courants,

Tombé de son âne, il se réjouit de la paix ».

PL3___Anh_4

Grâce au second vers du poème en nôm (peint en haut à droite) nous savons que ce décor fait référence à l’immortel taoïste Chen Tuan (Trần Đoàn, 871-989) de la dynastie des Song.

La légende raconte que la mère des futurs empereurs Song, Taizu et Taizong, fuyait les guerres qui sévissaient la Chine durant les Dix Royaumes, en emportant ses deux fils dans une palanche. Elle rencontra sur son chemin Chen Tuan qui improvisa un poème commençant par « Qui a dit que la Chine n’avait pas d’empereur ? ». Des années après, il vivait en ermite dans le mont Huashan (province de Shaanxi). Un jour qu’il se rendit en ville, il rencontra des commerçants qui l’informa que l’empereur des Zhou postérieurs, Shizong (954-959), avait cédé le pouvoir à son commandant-en-chef des armées, Zhao Kuangyin (le futur empereur Taizu des Song). Cette nouvelle réjouit son cœur. Il posa ses mains sur ses tempes et ria si fort qu’il tomba de son âne. Etonnés les voyageurs lui demandèrent ce qui lui fait tant plaisir. Chen Tuan déclara : « Cela assurera la stabilité de l’Univers. Tout s’accorderont avec la volonté du Ciel d’en haut, avec les lois terrestres d’en bas, et avec le bonheur des humains entre les deux. Le monde sera en paix à partir de maintenant ».

L’auteur vietnamien de ce distique emprunte l’image de Chen Tuan pour comparer l’intronisation de l’empereur Quang Trung à celle de l’empereur Taizu des Song, en espérant que ce règne soit aussi faste et bénéfique pour le Vietnam que fut celui de Taizu pour la Chine.

Posté par philippe truong à 16:13 - Bleu de Huê - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

08 octobre 2009

NUMISMATIQUE VIETNAMIENNE (1ere & 2e parties)

Ces deux documentaires de la télévision vietnamienne (sous titrés en anglais) propose de découvrir les monnaies anciennes du Vietnam.

Posté par philippe truong à 16:16 - Numismatique vietnamienne - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]

LE THAI BINH HUNG BAO, PREMIERE MONNAIE VIETNAMIENNE (968-979).

Le père de Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng), le général Đinh Công Trứ, s’était rallié à Dương Đình Nghệ dans la lutte contre les occupants chinois (931) et fut nommé préfet de Hoan Châu. Après l’assassinat de Duong Dinh Nghê, il se rangea du côté de Ngô Quyền (roi de 938-944) et fut maintenu à son poste.

A la mort de son père, Dinh Tiên Hoang accompagna sa mère et retourna s’installer à Truong châu (Ninh Binh) où il fut gardien de buffles. Durant la période des Douze Seigneurs (sứ quân), il se mit au service de Trần Lãm (ou Trần Minh Công), seigneur de Bộ Lĩnh (Thái Bình) qui, appréciant son intelligence et sa valeur, lui confia le commandement de son armée. A sa mort, il se retrancha à Hoa Lu avant d’entreprendre de soumettre les sứ quân, les uns après les autres. Après ses premières victoires militaires, Dinh Bô Linh fut nommé roi sous le nom de Vạn Thắng vương (« roi des dix mille victoires »).

En 968, il parvint à réunir le pays et instaurer la paix dans le royaume. Il se proclama empereur, prit le nom de Đinh Tiên hoàng đế (« Premier Auguste empereur Dinh ») et le titre de Đại Thắng Minh hoàng đế (« Grand Victorieux Eclairé Empereur »), nomma son pays en Đại Cổ Việt (« Grand Pays de l’Antique Viet ») et fixa sa capitale à Hoa Lư (Ninh Binh). Il organisa le royaume, établit le protocole à la cour, définit une hiérarchie de fonctionnaires civils et militaires, instaura une législation sévère pour imposer la paix et réorganisa son armée, etc. Il inaugura en 970 l’ère Thái Bình en signe d’indépendance à l’égard de la Chine (jusqu’àlors les souverains adoptaient le nom de règne des empereurs chinois). Pour sceller la paix avec la Chine, il fit partir une mission tributaire en 972, sous la conduite de son fils, pour reconnaître la suzeraineté des Song. En retour, il reçut de l’empereur Taizu le titre de Giao Chỉ quận vương (« Prince du Giao Chi »).

210px_VuaDinhTienHoang

Ce n’est que deux ans après son intronisation que Dinh Tiên Hoang, en 970, inaugura l’ère Thái Bình nguyên niên 太平元年 (« Première année de l’ère de la Paix », 970-979).

Les chercheurs vietnamiens et étrangers sont unanimes pour attribuer à ce règne la monnaie en bronze Thái Bình hưng bảo太平興寶 (“monnaie florissante de l'ère Thái Bình”), monnaie qui n’est mentionnée dans aucune des annales vietnamiennes (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, etc.) mais inventoriée, dès les Song du Sud, dans le livre chinois de Hồng Tuấn, le Quian zhi (Tiền chí) qui donne la description suivante :

« Pièce de 8 phân de diamètre, pesant 3,6 thù, avec sur une face l’inscription 太平興寶 (Thái Bình hưng bảo), au revers l’idéogramme (« Đinh ») au dessous du trou central. On trouve d’autres variétés avec différentes positions de ce surprenant (sic) , au dessus et au dessous du trou central».

gal_4a36877935a1f

Cependant, aucune monnaie Thái Bình hưng bảo n’a été retrouvée au Vietnam mais uniquement la monnaie Đại Bình hưng bảo 大平興寶 que les mêmes chercheurs considèrent comme étant la monnaie Thái Bình hưng bảo portant l’inscription Đại Bình hưng bảo.

Plusieurs raisons furent avancées pour expliquer l’absence du trait dans l’idéogramme thái , le transformant en đại .

1. Que cette absence est due à une erreur du créateur au moment de la fabrication du moule. Cette explication est peu vraisemblable, étant donné que nous trouvons aujourd’hui une dizaine de graphies différentes et toutes avec seulement l’idéogramme .

2. La seconde explication est plus légitime. D’après les chercheurs du Musée de Hanoi, le mot đại pouvait se lire également thái.

Le caractère hưng, qui peut se traduire « prospère », a été utilisé pour marquer une ère nouvelle après l’indépendance. 

D’après Miuria Gosen, il existe 14 graphies différentes :

d01001athaibinh1764dsite

thaibinh2044dsitethaibinh2043dsite

avec 4 revers différentes :

1. A revers avec le caractère Đinh (nom de famille de Dinh Tiên Hoang) au dessus du trou central.

aaa_dongtien_1_3thaibinh2043rsite

2. A revers avec le caractère Đinh (nom de famille de Dinh Tiên Hoang) au dessous du trou central. La barre supérieure du caractère Đinh est toujours confondue avec avec la bordure du trou central.

dongtien_1_2

3. revers avec le caractère Đinh (nom de famille de Dinh Tiên Hoang) écrit à l’envers. Cette série est très limitée.

Thai_hoa_revers_invers_

4. A revers vide. Contrairement aux productions postérieures, les Thái Bình hưng bảo à revers vide sont plus rares que celles à revers Đinh. Certains chercheurs chinois datent ces pièces de Lê Đại Hành (980-1005) avant l’édition de la monnaie Thiên Phúc trấn bảo 天福鎮寶 avec au revers son nom de famille au « printemps, 2e mois de l’année Giáp Thân, 5e année de l’ère Thiên Phúc (984) » . Or d’après les Annales, l’ère Thiên Phúc débute dès 980. De plus, il est impossible que l’empereur Lê Dai Hanh puisse frapper monnaie étant donné qu’il doit repousser au nord l’envahisseur Song, au sud l’armée Champa et réprimer les révoltes des dignitaires.

thaibinh2046rsite

Nguyễn Anh Huy, l’un des chercheurs spécialisés au Vietnam, a proposé récemment une nouvelle lecture de l’inscription  Đại Bình hưng bảo 大平興寶. Basé sur des documents historiques comme le texte de l’historien Lê Văn Hưu, il suggère qu’il faut lire l’inscription đại bình non pas comme une référence au nom du règne thái bình mais comme đại bình( định), « grand pacificateur » puisque Dinh Tiên Hoang est parvenu à réunifier le royaume, le rendre indépendant et vaincre les 12 sứ quân. En prenant le titre de Đại Thắng Minh hoàng đế (« Grand Victorieux Eclairé Empereur »), Dinh Tiên Hoang se place au même rang que les souverains chinois pour prouver l’indépendance de son royaume, comme plus tard en 970, il prend officiellement un nom de règne. Editer pour la première fois une monnaie propre au pays, le Đại Bình hưng bảo, est aussi la marque de cette indépendance.

D’après Xiong Bao Kang (directeur de l’Institut de recherche sur les monnaies et du musée de la monnaies de Guangxi) de multiples pièces Đại Bình hưng bảo ont été retrouvées dans le sud de la Chine, sur les territoires qui appartenaient aux anciens « Cent Yue » (Bách Việt, Baiyue, soit des tribus non Han). Cette présence atteste la persistance des relations entre les Vietnamiens (Lac Viet ou Lo Yue) et les autres Yue. En revendiquant le nom de Đại Cổ Việt (« Grand Antique Viet ») pour son royaumme, Dinh Tiên Hoang ne cherche-t-il pas, quelque part, à revendiquer également l’antique royaume des Yue ? Pour cette raison,  l’empereur Taizong des Song ne le nomma que comme « prince du Giao Chi », soit seulement de Nord Vietnam.

En conclusion, Nguyên Anh Huy propose de dater la première émission de la monnaie Đại Bình hưng bảo (« Monnaie florissante du Grand Pacificateur ») avant l’ère Thái Bình, soit entre 968 et 970.

Il ne faut pas confondre la monnaie Đại/Thái Bình Hưng bảo 大平興寶 datant de Đinh Tiên Hoàng avec les Thái Bình phong bảo 太平des seigneurs Nguyễn.

Posté par philippe truong à 16:09 - Numismatique vietnamienne - Commentaires [0] - Rétroliens [0] - Permalien [#]



Page suivante »